Ngày Xưa Nguyễn Trãi Tiên Sinh Làm Quan Hành Khiển Quên Mình Bề Tôi Phò Vua Lê Lợi Lập Ngôi Bình Ngô Đại Cáo Viết Thời Côn Sơn.
Khi nói đến lịch sử, hầu hết mọi người trong chúng ta đều nghĩ ngay đến những trang sách chi chít các dữ liệu ngày tháng khô khan, khó đọc, khó nhớ. Với cuốn tiểu thuyết Thảm Kịch Vĩ Nhân của nhà văn Hoàng Minh Tường thì khác hẳn. Cuốn sách cho chúng ta một cách đọc lịch sử mới mẻ, sinh động và lôi cuốn.
Nguyễn Trãi là một người yêu nước, sống thanh liêm, chính trực. Cũng vì đức tính đó mà quan lộ của ngài luôn gập ghềnh và gặp lắm trắc trở. Nhiều lúc, ngài đành phải buông xuôi vì số quan lại ngu dốt, tham lam, nịnh nọt, ác độc quá đông. Những lúc đó, cụ Nguyễn Trãi sẵn sàng từ chức, gạt bỏ bổng lộc, từ chối danh vọng để giữ vững tâm khí trong sạch.
Tiếc thay, cụ Nguyễn Trãi đã bị kết án oan. Thời nhà Lê, vụ xử án man rợ mang tên Lệ Chi Viên, đã tru di tam tộc đối với quan Thừa chỉ Hành khiển, cụ Nguyễn Trãi và vợ là người đẹp, quan Lễ nghi Học sĩ, bà Nguyễn Thị Lộ.
Trong bối cảnh đại dịch do con china wuhan novel coronavirus gây ra hiện nay, liên tưởng đến đức tính khí khái của cụ Nguyễn Trãi, mong rằng những người không có năng lực quản trị khủng hoảng nên nhường trọng trách cho những người vừa có kiến thức vừa có đạo đức đảm nhiệm công việc cực kỳ quan trọng này.
– Nhiêu? – Một thanh niên khoảng chừng hai lăm, tấp xe đạp vô lề, hỏi cô.
– Dù ba chục. Phòng, bao. – Từ bên gốc cây, cô trả lời cộc lốc, mắt liên tục dòm trước ngó sau phía hai đầu đường.
– Chị đi trước đi. – Thanh niên nói và đạp xe theo sau cô.
Họ tới một nhà nghỉ bình dân cũ kỹ trên đường Phùng Hưng. Anh chủ nhà nghỉ có cặp mắt hí đang ngồi sát cửa, không hề ngước lên nhìn hai người khách vừa dắt xe bước vô. Cầu thang tối mờ, bốc mùi ẩm ương pha lẫn mùi nhang phảng phất từ bàn thờ ông Địa và Thần Tài. Cô đẩy cửa bước vô một căn phòng. Sàn phòng vương vãi tàn thuốc lá và bao cao su. Mùi mồ hôi chen lấn mùi hương xịt phòng loại rẻ tiền làm cho bất cứ ai vừa bước vô cũng phải nhăn mũi. Nhưng chỉ vài phút là họ quen dần. Tấm ga giường ngả màu lá úa, loang lổ những vết nâu sậm ẩn nấp vụng về trong các nếp nhăn.
Ánh đèn đường màu vàng nhìn qua song cửa sổ, ngán ngẩm chứng kiến những đoạn phim xác thịt diễn ra nhiều lần mỗi đêm. Có lẽ thanh niên đã lâu không chạm vô thứ mùi ướt át của đàn bà nên mọi việc đã diễn ra khá chóng vánh. Cả hai có vẻ hài lòng.
– Cưng mới đi làm về hả? – Vừa bật quẹt mồi điếu thuốc, vừa thả mắt nhìn lên chiếc quạt trần đang uể oải quay, cô hỏi.
– Dạ. Em làm công nhân ở xưởng đồ nhựa gần đây. Hồi trẻ chị đẹp lắm phải hông?
Cô không trả lời câu hỏi của thanh niên mà chỉ mỉm cười, mắt nhìn theo làn khói bay dạt vội vã. Cô thảy cho thanh niên điếu thuốc đã hút mấy hơi và đứng lên, lẳng lặng nhanh chóng bước ra cửa. Cô tranh thủ trở về với gốc cây quen thuộc, nơi cô làm công việc tiếp thị hàng đêm.
Chợ Lớn về đêm nhộn nhịp đầy sức sống, phô trương và hối hả. Nhưng ở dọc nhiều con đường thưa thớt ánh đèn hiu hắt thì cuộc sống lại lặng lẽ và ảm đạm. Những mảnh vỡ thường tìm tới nơi đây để gắng gượng cúi lượm những đồng tiền từ tận đáy xã hội, ráng nhét vô những vết nứt rạn trong cuộc đời của họ.
Để có được một chỗ đứng ở gốc cây làm việc hàng đêm, cô đã phải đương đầu dàn xếp với nhiều thành phần luôn chực chờ hà hiếp và trấn lột cô. Cả đen lẫn đỏ. Thời gian đầu, cô yếu đuối và sợ hãi. Sự cạnh tranh khốc liệt dưới những gốc cây khi đêm về không dành cho những người ẻo lả.
Những ngày mới tới, cô ê ẩm với những đại ca bảo kê chăn dắt. Họ xua đuổi, dọa nạt, đánh đập cô. Cô chịu đựng, van xin. Hàng đêm cô phải trả tiền bảo kê để được yên thân làm việc. Nhiều lúc cô bị cuốn vô những cuộc cãi vã vì giành khách với gái đồng nghiệp, và để kết thúc, họ thường thực hiện những màn ẩu đả. Đại ca bảo kê ít khi can thiệp nên các cô phải luôn biết dừng đúng lúc để không ai bị người sứt đầu kẻ mẻ trán. Họ cần lành lặn ngoại hình, ít nhứt là khuôn mặt, để tiếp tục công việc.
Cuộc sống ở đáy xã hội cho cô nhiều cơ hội phải chứng kiến những tình huống vừa mếu vừa khóc. Đáng lẽ ra, những người như cô mới là thành phần lừa lọc nhưng trớ trêu thay, có lần cô lại là nạn nhơn. Bữa khuya nọ, có một ông trung niên dừng xe gần gốc cây và kêu cô đi. Họ tới một nhà nghỉ bình dân cũ kỹ trên đường Phùng Hưng. Khi tỉnh dậy, cô không thấy gã trung niên. Mấy trăm ngàn trong túi của cô chắc cũng đã đi theo gã.
Rất nhiều lần cô chứng kiến các hoàn cảnh tật nguyền già cả đáng thương ngồi u uẩn ở những góc đường. Cô không cầm được hai dòng nước mắt vì lòng trắc ẩn của cô quá lớn. Có đêm đạp xe đi làm về, thấy một cụ già ốm yếu nằm bên lề đường, sẵn có mấy ổ bánh mỳ, cô cho cụ một ổ. Cô đưa thêm cho cụ mấy chục ngàn, những đồng tiền phết phủ màu ái ân còn nóng mùi mồ hôi nhớp nháp. Cụ lắc đầu, thều thào:
– Cám ơn cô Ba. Tui không lấy tiền đâu. Giờ tui yếu lắm rồi, chỉ ngồi một chỗ, không đi đâu được.
Cô cẩn thận cất tiền lại vào túi và lặng lẽ đạp xe đi về. Dù sao cô thấy mình cũng còn may mắn hơn cụ nhiều. Những ngày gần Tết, khách của cô ít hơn. Có lẽ họ về quê hoặc đi du lịch. Gần góc Ngô Quyền và Ngô Gia Tự, mỗi tối thường có anh thương binh cụt hai chân, khoảng ngoài 40, hay ngồi hát với cây đàn guitar đã cũ. Những bài hát tiền chiến anh hát khiến cho nhiều người đi đường dừng lại lắng nghe và để lại cho anh vài tờ tiền lẻ nhàu nát, hôi hám.
Con biết bây giờ mẹ chờ tin con Khi thấy mai đào nở vàng bên nương Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về Nay én bay đầy trước ngõ Mà tin con vẫn xa ngàn xa
Tiếng hát anh thương binh làm cô nhớ nhà da diết. Cô nhớ mẹ và nhớ ba, nhớ tới thắt lòng những bữa cơm chiều đầm ấm của gia đình những ngày cận Tết. Cô ngồi xuống, gục mặt vô đầu gối mà khóc nức nở.
Sau đêm cô bị đám mặt rô đuổi ra khỏi nhà, trong một lần hai mẹ con cô đói khát đường cùng, cô đã gạt bỏ hết sỹ diện để bước chân về căn nhà của ba mẹ cô, nhưng ông bà không còn ở đó. Cô hỏi hàng xóm, họ cho biết hai ông bà đã đi Mỹ định cư được mấy năm rồi. Họ có đi tìm con gái mấy tháng trời nhưng bặt vô âm tính.
Lý Lệ Giang là một người phụ nữ cứng rắn. Cuộc đời vùi dập cô tả tơi rách nát như tàu lá chuối sau cơn bão. Cô không khuất phục. Mỗi lần bị đời hắt hủi, cô lại đứng lên và lỳ lợm hơn.
Bé Kimo là đứa con gái của cô với tay trạm trưởng. Kimo bị căn bệnh não chậm phát triển. Có lẽ là do gã trạm trưởng say xỉn nhiều quá nên chất cồn và hèm trong máu đã ảnh hưởng tới đứa con gái của ông ta. Lý Lệ Giang rất căm hận gã trạm trưởng vì gã đã nhẫn tâm bỏ rơi cô và đứa con nhỏ. Nhưng càng hận người đàn ông bạc bẽo đó, cô càng yêu thương đứa con của mình nhiều hơn.
Cô ước mong một ngày, Kimo và anh trai của nó sẽ được gặp nhau. Lúc đó, có nhắm mắt nằm xuống thì cô cũng sẽ rất hài lòng. Không ngờ ước mơ tưởng chừng như không thể đó lại trở thành hiện thực ngay cái hôm mà bà gặp lại Đào Thạc lúc bà đang đi bán vé số cách nay vài năm…
… Bà ngừng câu chuyện, nâng ly cappuccino lên miệng uống một ngụm nhỏ. Làn khói trắng mỏng từ điếu Pall Mall Green trên tay bà tỏa ra lơ lửng bay nhẹ vào không khí mang theo mùi thơm thiệt lạ.
Đây có lẽ là những tháng ngày hạnh phúc nhứt của bà. Bà cảm thấy yêu thương ông Đào Thạc vô cùng. Ông lắng nghe bà kể về những năm tháng lầm lỡ, cơ cực với nét mặt trìu mến đầy chia sẻ. Qua bao giông tố trong cuộc đời, nay đã ngoài sáu mươi, nét đẹp quý phái của bà vẫn không hề mất đi. Đôi mắt bà vẫn toát lên một ánh nhìn lôi cuốn và đầy thiện cảm.
– Nè ông, mấy chiếc xe hơi cổ đó đẹp quá. Mình ra đó xin chớp vài pô ảnh đi.
– Bà có muốn tui mua một chiếc xe cổ để chở bà đi dạo hàng ngày không?
Bà Lý Lệ Giang ngạc nhiên nhìn ông. Còn gì tuyệt vời hơn! Giọng nói của ông vẫn ấm áp như ngày nào. Đào Thạc đứng lên, ông nhẹ nhàng nắm tay bà Lý Lệ Giang. Với cử chỉ của một quý ông, Đào Thạc dắt bà đi ra phía những chiếc xe cổ duyên dáng đang đậu trước Hotel Continental Saigon.
Đầu thập niên 1980, Saigon chứng kiến giới doanh nhơn và trí thức chế độ VNCH hoảng loạn di cư từ thành phố tới các khu kinh tế mới. Vợ chồng Đào Thạc, với tánh bốc đồng của tuổi trẻ, hăng hái đăng ký tham gia cuộc di dân này. Anh và gia đình rời xa thành phố, đi theo tiếng gọi đanh thép từ mảnh đất phèn chua nước mặn để lập nghiệp, ở nông trường An Hạ, thuộc quận 5, TPHCM.
Vợ chồng Đào Thạc là những trí thức trẻ tốt nghiệp đại học Văn Khoa Saigon. Tới nơi, họ cảm thấy vô cùng xa lạ với hoàn cảnh cuộc sống mới. Tay họ chỉ biết cầm cây viết, gãy dây đàn, dìu nhau theo tiếng nhạc của vũ trường. Nay tay họ phải cầm cây rựa và vai họ phải vác cây cuốc, phải phơi mình từ sáng sớm tới tối mịt dưới cái nắng nóng cháy khét sạm da.
Những ngày đầu ở nông trường, một vùng đất nghèo đói, không tài nguyên, cuộc sống của họ luôn đối mặt với vô vàn gian truân. Sự háo hức ngây thơ trước đây bây giờ là sự chán nản đầy hối tiếc. Có những lúc họ tưởng không thể chịu đựng được nữa. Có những lúc, họ chỉ muốn dụt bỏ tất cả để trở về lại thành phố. Nhưng đó chỉ là ước mơ. Thành phố không còn là của họ nữa. Thành phố không có nơi cho họ quay về.
Saigon, cái thành phố phồn hoa kia nay đã là dĩ vãng. Những tháng ngày đẹp đẽ bên nhau dưới ánh đèn lung linh nay chỉ còn là kỷ niệm. Những buổi chiều ngồi nhâm nhi cà phê nhìn dòng người qua lại chỉ còn là ký ức. Những hôm bạn bè rủ nhau râm ran ở tiệm kem Bạch Đằng giờ chỉ còn trong nỗi nhớ. Những chai bia laser mát lạnh với chúng bạn giờ chỉ là nỗi thèm khát vô biên. Họ nhớ lắm những buổi tối nắm tay nhau cùng bước vô rạp cinema. Họ nhớ da diết giảng đường đại học, nơi tình yêu cháy bỏng của họ nở bông kết trái.
Họ phải tập làm quen dần với cuộc sống mới. Ở đây không có nước sạch để sanh hoạt hàng ngày. Họ tắm giặt ở dòng nước trong xanh của con kênh Xáng. Nước ở đây nhiễm phèn nặng nên rất trong. Rong và cây cỏ năng là hai loài chủ yếu mọc ở vùng này. Nước tuy trong veo nhưng khi tắm xong, da vừa khô là xuất hiện một lớp màng màu nâu. Dùng tay gãi nhẹ lớp màng này mốc ra như phấn.
Nước dùng để ăn uống là một vấn đề rất lớn. Họ xài những chiếc lu để trữ nước mưa hoặc phải đạp xe đi mua nước sạch cách nhà năm bảy cây số. Nhà nước chỉ đưa họ tới đây, một nơi hoang vu, không bóng cây cao, không có những tiện ích tối thiểu cho cuộc sống. Họ phải tự sống. Ngày ngày, họ làm bạn với những liếp mía và vườn thơm. Đêm xuống, dưới ánh trăng vàng vọt, họ cùng nhau ngồi thưởng thức tiếng muỗi vo ve như tiếng nhạc vĩ cầm.
Có lần, trong lúc đang đi thu hoạch mía, đôi tay tiểu thơ do không thạo dùng dao rựa, vợ anh đã lỡ chặt vào ngón cái, máu tuôn đỏ cả vạt áo. Cái thẹo để lại lớn gần 5cm. Từ bữa đó, vợ anh vứt cuốc, bỏ làm nông. Cô vay mượn tiền của anh chị em bạn bè để lấy vốn đi buôn.
Một thời gian, do làm nông cũng không nổi, Đào Thạc xin vô làm giáo viên dạy ngoại ngữ ở trường PTCS địa phương. Với trình độ của anh thì đúng là một nhơn sự mà nhà trường đang cần. Sáng anh dạy ở trường, chiều anh dạy thêm ở nhà. Cuộc sống tạm ổn cứ vậy trôi đi.
Thập niên 1990, đất nước đổi mới, thành phố đón chào các dòng thác tiền đầu tư của ngoại quốc tới tấp tràn vô. Các doanh nghiệp làm ăn với các đối tác ngoại quốc rất cần những người biết tiếng Anh. Đào Thạc thấy được cơ hội. Anh bỏ nghề thầy giáo, đi làm thông dịch cho một doanh nghiệp may mặc lớn của nhà nước. Giám đốc doanh nghiệp là một người từ ngoài Bắc mới vô. Ông ăn to nói lớn, thường dùng tiếng đệm địt đéo để làm cho lời nói có thêm mùi văn chương! Đấy là ông ấy giải thích thế.
Công việc thông ngôn đối với Đào Thạc không có gì khó khăn, vì anh được đào tạo chuyên ngành này trong ban Anh Văn và Pháp Văn ở Đại Học Văn Khoa Saigon trước đây. Ông giám đốc rất trọng dụng anh nên ông dành cho anh nhiều ưu ái. Nhờ lương cao và công tác phí hậu hĩnh, cuộc sống của anh trở nên khá giả. Anh dành dụm tiền mua được căn nhà ở khu cư xá Nguyễn Trung Trực, Q.10 và dọn về đó ở.
Mỗi lần họp với khách nước ngoài, ông giám đốc có lúc lỡ quên hoặc do thói quen, đã vô tư xài thêm tiếng đệm mà Đào Thạc không cách gì dám dịch cho khách nghe. Đôi lúc anh cũng gặp phải tai nạn nghề nghiệp, do kiểu nói tắt thường có của những người xã nghĩa ở ngoài Bắc. Ông giám đốc thường dùng các từ nói gộp, nói tắt kiểu như “phối kết hợp”, “nông lâm nghiệp”, “công nông trường”, “vườn ao chuồng”, “y bác sỹ”, “khu cao xà lá”, “thanh kiểm tra”…
Khoảng năm 2000, nhờ tánh chất công việc, quen biết các đối tác ngoại quốc, Đào Thạc nhờ họ giới thiệu và cho con trai anh đi du học ở Mỹ. Sau khi tốt nghiệp The College Of Aeronautics, Florida, chàng trai làm phi công cho hãng Singapore Airlines. Thỉnh thoảng Đào Thạc cũng được con trai mời đi nước ngoài trên chính chiếc máy bay anh con trai lái.
Thập niên 2010, Đào Thạc thường ngồi uống cà phê ở Hồ Con Rùa. Những khi ngồi nhâm nhi cà phê với bạn bè ở Hồ Con Rùa, Đào Thạc thường kêu mấy đứa trẻ lại để đánh giày cho ông. Ông bo rất sộp. Ông cũng thường mua vài tờ vé số của những người bán dạo. Ông ít khi lấy lại tiền thối. Ông mua cũng chỉ để quên đó chớ ít khi ông dò. Vì có trúng đâu mà dò.
Những ngày cuối năm, đường phố Saigon thường vắng hoe. Đào Thạc trầm tư nhâm nhi ly cà phê một mình ở góc Hồ Con Rùa quen thuộc. Những lúc một mình, ông thường đeo cặp kính mát hình giọt lệ hiệu Rayban, lơ đãng ngắm nhìn xe cộ lưa thưa qua lại. Ông thả hồn bay theo những bài hát trữ tình tiếng Pháp. Ông rất thích những lúc cô đơn như thế này. Nó cho ông những khoảng thời gian tuyệt vời nhứt để gặm nhấm lại những kỷ niệm. Cuộc sống bao thăng trầm, bao đổi thay, bao mất mát và đau khổ. Nhưng tất cả cũng đã qua đi, giờ chỉ còn là ký ức. Ông ngồi lặng lẽ, bồi hồi chìm vào dĩ vãng…
… Vợ anh từng là một nữ sanh viên xinh đẹp, là hoa khôi của trường Văn Khoa Saigon. Cô thu hút những ánh mắt ngây dại của các nam sanh. Cô còn là sự ganh tỵ của các nữ sanh qua những cái liếc mắt dài vô tận. Nhiều chàng trai si tình vật vã vì nhan sắc của cô. Họ chết mê chết mệt vì mái tóc bồng bềnh xõa xuống, chạy dọc theo những cung đường cong dưới lớp tà áo dài. Đào Thạc khéo văn nghệ lại còn học giỏi. Anh may mắn chiếm được trái tim nóng dại của cô hoa khôi.
Cuối thập niên 1970, họ cưới nhau. Không lâu sau đó, họ xung phong đi kinh tế mới. Cuộc sống khó khăn cực khổ ở vùng kinh tế mới để lại trong cuộc đời họ nhiều kỷ niệm. Vui có, buồn có. Mùa mưa năm 1985, một hôm đi dạy về, Đào Thạc thấy một bức thơ trên bàn, anh mở ra. Những nét chữ quen thuộc của vợ anh chợt nhạt nhòa.
Anh Thạc, Em không chịu nổi cuộc sống cực khổ ở chốn khỉ ho cò gáy này nữa. Em ra đi. Tiền bạc em để lại. Anh nuôi con giùm em. Em ngàn lần xin lỗi. Lý Lệ Giang
Bức thư ngắn ngủi của vợ làm cho Đào Thạc bất ngờ. Anh bàng hoàng, đau đớn vô cùng. Anh không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Anh đang ngủ mơ chăng? Anh không biết đi tìm vợ ở đâu. Anh đi hỏi thăm người nhà của vợ, bạn bè của vợ, nhưng không ai biết cô ở đâu. Cuộc sống của anh rơi vô bế tắc cùng cực. Một mình anh nuôi đứa con ba tuổi sẽ không hề dễ dàng gì. Thiệt tội nghiệp cho nó. Mẹ nó bỏ đi khi nó còn quá nhỏ. Nhiều đêm nó giật mình thức giấc, khóc thét kêu mẹ…
Đào Thạc chợt giật mình, ông thoát ra khỏi dòng suy tưởng… Có tiếng phụ nữ mời ông mua vé số. Không kịp suy nghĩ gì, như một thói quen, ông uể oải cầm xấp vé số và lấy vài tờ. Ông móc bóp trả tiền. Khi người phụ nữ đưa tay cầm tờ hai mươi ngàn đồng, Đào Thạc vô tình nhìn vô bàn tay nhăn nhúm già nua của bà. Ở đó có một vết thẹo dài. Ông bất giác nhìn lên gương mặt người phụ nữ. Ông thoáng cảm thấy có một dòng điện chạy thẳng vô tim. Ông chợt thốt lên:
– Lệ Giang!
Người phụ nữ ngơ ngác đứng im một lúc. Bà bỗng run rẩy, nước mắt tuôn trào. Xấp vé số trên tay bà rớt xuống đất. Giọng nói của Đào Thạc trong tim bà vẫn luôn ấm áp như ngày nào. Đào Thạc đứng lên, ông nhẹ nhàng cầm tay bà Lý Lệ Giang, dìu bà ngồi xuống ghế…
… Nhờ vay mượn tiền làm vốn, vợ anh bắt đầu đi buôn lậu. Cô xuống miệt miền Tây mua gạo và thịt heo, rồi đem lên Chợ Lớn bán cho các vựa buôn sỹ của người Hoa. Thời gian đầu, vì chưa quen nên nghề buôn lậu rất bấp bênh. Tiền lời mỗi chuyến tuy cao nhưng mỗi lần bị bắt là đứt vốn. Có nhiều lần cô bị bắt và bị tịch thu hàng, cô khóc lóc, quỳ xuống năn nỉ.
Vợ Đào Thạc thông minh, sắc sảo. Sắc đẹp trời cho của gái một con đã giúp cô thoát nhiều phen tưởng chừng như mất trắng trong các chuyến đi hàng. Dần dà, cô làm quen được với tay trưởng trạm chống buôn lậu ở Bến Lức. Tay này từ Thanh Hóa vô, nổi tiếng xử rắn, bắt được hàng là tịch thu, không xin xỏ. Ông ta cũng nổi tiếng là một tay nhậu nhẹt không đối thủ. Hầu như ngày nào ông ta cũng nhậu nhẹt, say xỉn. Trạm này bị dân buôn lậu bán chết cho cái tên là ‘trạm hố bom’ vì nếu bị trạm này bắt là tịch thu, không tha. Từ khi làm quen được với tay trưởng trạm, những chuyến hàng của cô không còn là vài chục ký nữa mà là hàng chục dạ gạo.
Để các chuyến hàng qua được trạm trót lọt, cô phải chiều tay trưởng trạm Bến Lức mỗi khi anh ta đòi hỏi. Họ thường hẹn nhau vô các khách sạn ở Chợ Lớn. Với bản tánh háo thắng, anh ta vồ lấy cô như muốn nuốt chửng cả cơ thể của cô. Giày vò, ngấu nghiến, mệt nhoài.
Những lần đầu, cô cảm thấy vô cùng tội lỗi. Khi về tới nhà, cô mệt mỏi, chán chường. Nhưng ma lực đồng tiền cứ nhảy nhót cuốn cô đi, khiến cô giãy giụa trong những cơn mưa bão xác thân vụng trộm mà cô không thể nào thoát ra được. Cô chìm dần.
Sau những cuộc mây mưa trăng gió, họ thường tới ăn tối ở nhà hàng Ngọc Lan Đình, nổi tiếng ở đường Trần Hưng Đạo B, Chợ Lớn. Dần dà, cô có cảm giác quen với mối quan hệ này. Vài ngày không gặp nhau là cô cảm giác như thiếu gì đó. Cô trở nên chưng diện và thờ ơ với chồng.
Một hôm, cô để lại cho chồng một lá thư và dứt áo ra đi. Cô bỏ chồng bỏ con, đi theo gã trưởng trạm, làm lẽ. Từ đó, cô trở thành vợ bé của ông ta. Ông ta mua cho cô một căn nhà ở quận 5. Cô không còn trực tiếp đi buôn lậu nữa mà ở nhà điều khiển mấy đứa đàn em đi hàng. Công việc buôn lậu của cô phất lên như diều gặp gió.
Một buổi tối, khi cô và tay trạm trưởng đang ăn tối ở nhà hàng, một đám bốn năm người mặt mày hung dữ từ ngoài lao tới bàn của họ. Tay trạm trưởng mặt tái mét, ngồi như trời trồng. Ông ta lý nhí trong miệng “ơ kìa, này, ơ kìa, này, này…”. Một người phụ nữ trong đám, đứng tuổi, dáng đẫy đà, mặt hoa da phấn giận dữ, trợn mắt chỉ thẳng vào mặt cô, hét lớn:
– Địt mẹ. Con mặt luồn này cướp chồng bà. Bọn mày đánh chết nó cho tao…
Nói chưa dứt câu, bà ta vung tay táng cho cô mấy bạt tai. Cô choáng váng, ngất lịm đi.
Khi tỉnh dậy, cô thấy mình đang nằm ở lề đường, khắp người ê ẩm, mặt cô sưng vù. Quần áo của cô bị xé rách, dính đầy máu và bùn đen. Thành phố đã khuya, vắng người qua lại. Cô đau đớn, ê chề, nước mắt lã chã. Cô cố lê từng bước về nhà.
Tới nhà, cô thấy đám người bặm trợn lúc tối đang ở đó. Họ không cho cô vào nhà. Đứa con gái năm tuổi của cô đang đứng khóc chờ cô ở ngoài cửa. Đám người kia thảy cho cô một ít quần áo rồi đuổi cô đi. Hai mẹ con lầm lũi bước đi trong đêm. Vô vọng. Vô định. Nhục nhã.
Họ đi lang thang, ngày qua tháng tới. Bữa đói, bữa no. Cuộc đời dạy cho cô bài học này và trừng phạt cô hình phạt quá lớn. Không biết khi nào cô mới học xong. Cô để dành từng đồng tiền người ta bố thí. Một thời gian, cô không đi ăn xin nữa. Cô đi bán vé số. Cô lại tiếp tục để dành tiền, mua được chiếc xe đạp.
Nhiều đêm, cô nhớ về Đào Thạc, nhớ anh và nhớ đứa con trai da diết. Một ngày, cô quyết định đạp xe chở đứa con gái về thăm ngôi nhà lá năm xưa. Đêm tối, cô đứng ngoài cổng nhìn vô. Cô cứ đứng như vậy, khóc nức nở. Cô muốn gào lên hai tiếng “anh Thạc” nhưng cổ họng cô như tắc nghẹn. Tuần nào cô cũng đạp xe về thăm chồng con như vậy, suốt mấy năm trời. Đào Thạc không hề hay biết.
Một buổi tối nọ, cô đạp xe chở con gái về thăm chồng con dưới cơn mưa rào nặng hạt gió rát vào mặt. Từ ngoài cổng nhìn vô, cô không thấy ánh đèn quen thuộc. Ngôi nhà đóng cửa, tối đen. Cô buồn bã đạp xe ra về trong cái lạnh và đói.
Hôm sau cô lại tới. Ngôi nhà im ắng, không ánh đèn. Hôm sau, cô lại tới. Không có chồng con của cô ở đó. Cô hoang mang. Tuần sau cô lại tới. Ngôi nhà vẫn im tiếng.
Mỗi tháng cô vẫn đạp xe về thăm chồng con như vậy. Mỗi lần cô về, cỏ cây trong vườn cao lên thêm một chút, um tùm, buồn thảm, tê tái…
Người Anh Từng Chiếm Nơi Đây Bao Năm Ngậm Đắng Chất Đầy Xác Thân Âm Thầm Lặng Lẽ Rút Quân Điêu Tàn Để Lại Người Dân Xứ Này.
Thế Rồi Gấu Trắng Ra Tay Mu Jah Khiến Họ Sa Lầy Mười Năm Ra Về Nhục Nhã Tối Tăm Liên Xô Đã Tởn Hàng Trăm Năm Trời.
Đại Bàng Vỗ Cánh Đến Chơi Lập Nên Chánh Phủ Ka Zài Mới Tinh Hai Mươi Năm Loạn Chiến Chinh Đại Bàng Gãy Cánh Quay Mình Cố Hương.
Đến Đây Xuất Hiện Họ Vương Bên Ngoài Gấu Trúc Gạt Lường Bên Trong Tháp Lợi Bang Đến Họp Xong Chiến Lang Giành Chỗ Đặng Mong Xí Phần.
Saigon, 17/08/2021
— — — – Mu Jah = Mujahideen, lực lượng thánh chiến – Kar Zài = Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai (2001 – 2014) – Họ Vương = Vương Nghị, Ngoại trưởng Trung Quốc – Tháp Lợi Bang = Taliban – Á Phú Hãn = Afghanistan